Thứ ba, 24/04/2018,


Chùm thơ dự thi TQVĐP số 204 (31/12/2017) 

Lucbat.vn trân trọng giới thiệu Chùm thơ dự thi Cuộc thi sáng tác thơ Lục Bát "Tổ Quốc và Đạo Pháp" số 204 của các tác giả: Hà Ngọc Hoàng (Quảng Ninh), AnhVan (U.S.A), Dương Đoàn Trọng (Hà Nội), Đặng Thái Quí (An Giang), Lê Minh Tý (Hà Nội).

 
 
 

Tác giả Hà Ngọc Hoàng
ĐT: 01694029558
Email: canhcuaroc@gmail.com
Điạc chỉ: Tổ 8, Hạ Long, phường Ninh Dương, TP. Móng Cái, Quảng Ninh
 
 
 

 

1. ĐỢI ĐÒ

Em nơi nào phía chân trời
Cá bơi dưới nước người ngồi bến sông
Được mùa hoa cải trổ bông
Tìm người để tặng mà không thấy người

Ngẫm ra đã quá nửa đời
Bàn tay chai sạn thiếu người chăm lo
Nhiều khi mẹ vẫn dặn dò
Có người cơm nước, mẹ cho căn nhà

Đã qua mấy chục mùa hoa
Sơn tường giờ đã nhạt nhoà theo mưa
Bước chân vấp phải cửa chùa
Vụng tu đành chịu gió lùa qua song

Đến mùa hoa cải trổ bông
Có người chải tóc bên sông đợi đò.
 

 




2. ÁNH TRĂNG BÊN THỀM


Ánh trăng soi sáng bên thềm
Đọng vào sương để lá mềm khẽ rơi
Ngồi buồn tôi hát đàn chơi
Chẳng hay em đến bên tôi lúc nào

Tình yêu cuộn sóng dạt dào
Hàng phi lao đứng trên cao chụm đầu
Sóng lòng gối tựa vào nhau
Búp sen em nở trên bầu tay ai

Gió thở trên vạt áo dài
Sương rơi trên lá khẽ cài trên mi
Chúng mình nghe sóng cuốn đi
Trăng hôn mặt nước thầm thì với ai

Bảo rằng nếu có ngày mai
Thì cơn gió tạt bạc phai mái đầu
Đêm nay ai bắc nhịp cầu
Để trăng gặp gió dãi dầu tháng năm.
 

 




3. TRÀ CỔ

Mặt trời đỏ lửa đằng tây
Hải âu lượn sóng vút bay lên trời
Em như tiên nữ rạng ngời
Lòng anh sóng vỗ bồi hồi không yên

Lạc vào Trà Cổ thần tiên
Cồn Mang ngậm sóng một miền trắng tinh
Cầm tay giỡn sóng tự tình
Vầng trăng soi bóng chỉ mình với ta

Nhìn kìa Sa Vĩ mờ xa
Những lời có cánh ướt nhòa trong đêm
Vạn Gia cửa biển êm đềm
Hàng phi lao đứng lãng quên khi nào

Đêm nay trăng nép vòm sao
Hai người dạo bước lạc vào cõi tiên.
 
 
 


4. CHIẾC LÁ LÌA CÀNH

Mây trời lặng lẽ sông trôi
Gặp cơn gió thổi... thổi rồi lặng yên
Lá rơi lặng lẽ ưu phiền
Lướt ngang lướt dọc đến miền hư vô

Cơn mưa chợt đến bất ngờ
Nước in trên lá… lá chờ tan mây
Hong khô giọt nước vơi đầy
Để cho lá nhẹ lướt bay phiêu bồng

Lá bay... bay giữa tầng không
Cởi buông chiếc áo sầu lòng tương tư
Cuộc đời… đời cũng giống như
Chỉ là chiếc lá từ… từ rời xa.
 
 

 



5. EM TẮM SUỐI


Suối kia em tắm một mình 
Làn da trắng muốt gợi tình mắt anh 
Ngực em suối chảy lượn quanh
Nõn nà như vẽ bức tranh hoạ đồ
 
Thấy anh em cứ giả vờ 
Cho anh nhìn ngắm đêm mơ về mình 
Trái tim em bỏ ngải tình 
Và em chẳng biết mỗi mình anh say
 
Trắng ngần như lụa bắp tay 
Gửi cho anh con suối này hai ta 
Em về thưa với mẹ cha 
Thương anh trong bản sang nhà đón dâu
 
Suối kia đã bắc nhịp cầu 
Em về chẻ củi kéo gầu cho anh 
Say tình trong túp lều tranh 
Mơ hương đất cũ dệt thành duyên tơ.
 
 
 
 

 

6. DÁNG MẸ

Vầng trăng rơi xuống vẫn tròn 
Khi mình vốc nước trăng còn trên tay 
Mẹ như chiếc lá tre gầy 
Thân cò lặn lội cuốc cày sớm trưa 

Tiết trời đổi nắng thành mưa 
Mẹ chạy chỗ thóc chỉ vừa phơi xong 
Hạt khô mẹ bỏ vào nong 
Hạt nào thấm nước quạt hong trước nhà 

Thế rồi ngày tháng cứ qua 
Bố đi công tác xa nhà từ khi 
Nỗi buồn theo sóng cuốn đi 
Thâm tâm luôn nghĩ làm gì nuôi con 

Trăng còn có lúc khuyết tròn 
Nghĩ về dáng mẹ vẫn còn vẹn nguyên.

H.N.H

 

 

 
 
 

 

Tác giả Anh Van  (U.S.A)
Email: anhvandaousa@gmail.com
 
 
 

 

1. QUÊ HƯƠNG VIỆT NAM

Quê hương là dải đất liền
Cong hình chữ S ba miền anh em
Nam Trung Bắc cũng một tên
Việt Nam dòng giống cháu tiên con rồng.

Quê hương là những cánh đồng
Mênh mông lúa chín nắng hồng sớm mai
Biển xanh bờ cát chạy hoài
Đi qua năm tháng ngày dài chiến tranh.

Quê hương là lũy tre xanh
Là con đường nhỏ lượn quanh lối mòn
À ơi tiếng mẹ ru con
Võng đưa kẽo kẹt bé tròn giấc trưa.

Quê hương là những rặng dừa
Sông sâu nước mát thuyền đưa lúa về
Nắng hè nhuộm trắng thân đê
Mồ hôi nặng gánh mẹ về chiều nay.

Quê hương nhắn nhủ cùng ai
Anh em chung mẹ chớ hoài ghét nhau
Qua rồi mấy cuộc khổ đau
Xin đừng để giọt lệ sầu mẹ rơi.
 
 
 
 

 

2. LÀNG  TÔI
(Viết về quê hương tác giả)


Làng tôi có lũy tre xanh
Cây đa giếng nước mái đình cong cong
Dân quê chân đất gánh gồng
Thơm mùi lúa mới hương đồng mạ non.

Mồ hôi trắng áo vai sờn
Cày sâu cuốc bẫm đã hơn mấy đời
Quanh năm bán nắng cho trời
Bán mặt cho đất mưa rơi mặc lòng.

Phận người vẫn cứ long đong
Tháng ba ngày tám rời đồng nổi trôi
Bây giờ đã khác xưa rồi
Đường làng thành phố cuộc đời đổi thay.

Nhà lầu xe máy ga tay
Mọc lên như nấm sau ngày có mưa
Cánh cò đồng ruộng ngày xưa
Bờ xôi ruộng mật bây giờ còn đâu.

Chiêm xong, mùa gối vụ màu
Đi vào kỷ niệm nỗi đau lòng người
Tha nhân cách biệt phương trời
Buồn vui mấy nỗi cũng nơi sinh thành.

Bây giờ tóc chẳng còn xanh
Hoàng hôn buông xuống mong manh lối về
Ta đi hồn gởi lại quê
Đem theo hai chữ Cẩm Khê* vào lòng.
__________
* Làng Cẩm Khê, Tứ Minh, Cẩm Giàng
(Nay là Khu Cẩm Khê, TP. Hải Dương)

   

 

 
  

3. NGẢ  NGHIÊNG
(Viếng anh Cả vừa mất vì tai nạn giao thông)


Hôm nay anh Cả đi rồi
Tin như sét đánh đất trời nghả nghiêng
Nhân tai giáng xuống người hiền
Trời xanh như cũng ưu phiền đổ mưa.

Thời gian tháng đợi năm chờ
Anh em gặp mặt bây giờ còn đâu
Người đi để lại nghìn sầu
Âm dương cách biệt nỗi đau ngập lòng

Từ nay con cháu hết trông
Anh tôi đi mãi mà không ngày về
Xa rồi mọi nỗi đam mê
Giã từ cõi tạm bộn bề buồn vui.

Cầu linh hồn của anh tôi
Được về cửa Phật làm nơi nương nhờ
Viếng anh bằng đoạn buồn thơ
Đưa anh về với giấc mơ vĩnh hằng.

 
 
 

 

4. NHỎ LỆ

Đầu thu đón lễ Vu Lan
Kiền Liên báo hiếu thế gian soi vào
Mẹ Cha biển rộng trời cao
Công sinh dưỡng dục khắc vào trong tâm.

Khóc cho lòng dạ thế nhân
Giàu sang nhắm mắt quên dần Mẹ Cha
Nghèo tham số ít người ta
Song thân nguyền rủa xô ra ngoài đường.

Đời cười những kẻ bất lương
Trời cao nhỏ lệ xót thương phận người.

 
 
 

 

5. VẤN VƯƠNG

Phượng hồng hay máu con tim
Hè sang ai nhớ đi tìm vấn vương
Một thời áo trắng thân thương
Điểm vài giọt nắng sân trường mộng mơ.

Ve kêu khắc khoải đợi chờ
Nhớ người trong mộng câu thơ thoáng buồn
Bây giờ mực tím cô đơn
Mây chiều nhớ núi phượng hờn nhớ ve.

Thương em duyên dáng tóc thề
Thướt tha tà áo lối về ngày xưa
Ngỡ rằng chỉ có trong mơ
Tình không dám nối bây giờ xa nhau.

A.V

 

 
 
Tác giả Dương Đoàn Trọng 
ĐT: 0168 768 5911
Email: trong867017@gmail.com
Địa chỉ: Lâm Điền, Chương Mỹ, Hà Nội 
 
 
 

 

PHẢI LÒNG
(Cảm tác nghe hát Dân ca Quan họ)


Dễ gì tôi đã phải lòng
Nếu em không thả xuôi dòng dân ca
 
Mạn thuyền trăng tựa đêm qua
Bập bềnh sóng vỗ 
tôi gà gật say
Tại người têm lá trầu cay
Tôi dang cánh phượng khó bay khó dừng
Toan về 
em nhủ xin đừng
Mây trôi bèo dạt 
người dưng nát lòng
 
Làm gì ra có ai mong
Thế mà
tôi cứ phải lòng vu vơ.

D.Đ.T

 

 
 
 

Tác giả Đặng Thái Quí
ĐT: 0969708524
Email : dangthaiquy77@gmail.com
Địa chỉ: Trường THCS Nguyễn Quang Sáng, T.T Mỹ Luông, H. Chợ Mới, T. An Giang.
 
 
 
 

 

1. BÊN CỘI BỒ ĐỀ

Phút giây Phật nhập Niết bàn
Tây Phương mở cửa, thiêng đàng xôn xao
Hoa nở, lá rụng ào ào
Nhiên Đăng Cổ Phật ra chào Thích Ca
 
Trẻ con, nam nữ gần xa
Vui mừng kéo đến dâng hoa kính dường
Phật cười nhỏ nhẹ lạ thường
Giảng Tứ diệu đế chỉ đường người đi
 
Khuyên người đừng có sân si
Từ bi hỉ xả gắng ghi trong lòng
Cuộc đời dù có mênh mông
Trong tâm đã có đóa hồng khai minh
 
Ngại gì sóng gió đinh ninh
Bốn hai đại nguyện vững tin ở đời.
 
 
 

 

2. CUỘI

Ngàn năm Cuội ngủ ngon lành
Cây đa vẫn vậy lá cành xum xuê
Cuội nào làm biếng bỏ bê
Ngày đêm chăm sóc, vỗ về cây đa
 
Siêng năng chẳng dám la cà
Đầu non góc bể để mà rong chơi
Mặc dù riêng một góc trời
Vẫn không buồn bã vẫn mời trăng lên
 
Hằng Nga luôn ở kề bên
Thuyền mây bến gió thênh thênh cõi lòng
Nào đâu dám ước cùng mong
Lầu son điện ngọc, cưỡi rồng mà bay.
 
Sớm hôm chiều tối cuốc cày
Gieo trồng mơ ước để ngày thêm tươi
Đêm nằm nghe tiếng lá rơi
Mừng cho non nước rạng ngời tương lai.
 
 
 
 

 

3. CỔ TÍCH

Lúc nào cổ tích sinh ra?
Cho bao đứa trẻ thật thà cả tin
Tin rằng có Bụt hiện hình
Tin rằng cây khế quạ rình, quạ ăn
 
Tin rằng có kẻ chém chằn
Tin rằng có đảo kim ngân ngọc ngà
Tin rằng có cánh tiên nga
Tin rằng sách ước, ước là có ngay
 
Tin rằng Phật giả ăn mày
Tin rằng viên ngọc ước gì cũng nên
Tin rằng chó đá biết tên
Tin rằng gà trống bay lên tới trời
 
Tin rằng cây gậy cứu người
Tin rằng lọ nước uống vào trường sinh
Lớn lên tỉnh mộng, giật mình
Buồn như mất một mối tình thần tiên.
 
 
 
 

 

4. ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Con đường đi tới tương lai
Hoa mai nở rộ, hoa lài ngát hương
Dù cho qua mấy ngã đường
Hồn ta bát ngát, gió vương nụ hồng
 
Dù cho bến đục bến trong
Thuyền tình ta cứ thong dong bên đời
Non xa trăng hát à ơi
Nghiêng nghiêng cành trúc lả lơi vẫy chào
Đêm khuya chắc hẳn ngọt ngào
Bình minh chắc hẳn muôn màu nắng thơm
 
Chim tha về tổ sợi rơm
Dệt nên tổ ấm vàng ươm bên trời
Ngày mai sẽ rất tuyệt vời
Con đường mở rộng gọi mời bước chân.

Đ.T.Q

 

 
                    
 

 

Tác giả Lê Minh Tý
Đ.T: 0912067882
Địa chỉ: Đội 1, xã Kim Chung, Đông Anh, Hà Nội
 
 
 

 

1. VIẾNG MỴ CHÂU

“Nỏ thần vô ý trao tay giặc
Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu” (1)
Giọt sầu sâu thẳm nỗi đau
Viếng “Am” mà nhói kim đâu châm lòng
 
Khôn cầm khói mắt cay nồng
Ruột gan lửa đốt bập bùng lạnh tanh
Ngấm đời truyền thuyết sử xanh
Tình duyên trắc ẩn Loa thành chìm mau
 
Chín hồng vương nỗi thương nhau
Nhát gươm oan nghiệt khiến đầu lìa vai
Bụi trần gian lấm riêng ai
Mỵ Châu, Trọng Thủy tàn phai uống sầu
 
Hỡi ơi, con Lạc cháu Hồng
Dân an Quốc thái cạn dòng bể dâu
Hồn thiêng hóa đá không đầu(2)
Tấm thân trơ trọi lệ sầu đong riêng…

_________
1. Thơ Tố Hữu
2. Ở Đền Cổ Loa, tượng Mỵ Châu chỉ có thân, không có đầu.

 

 
 
 
2. CHÙA BÁI ĐÍNH

Chốn thiêng tâm niệm thỉnh cầu
Đẫm trong sương khói vợi sầu trần gian
Thập phương du khách từng đoàn
Thăm chùa Bái Đính ngập tràn đường đi

Guyness kỷ lục sách ghi
Siêu chùa lớn nhất sánh bì nơi nao
Tháp chuông lưng ngấn trời cao
Âm vang theo gió lọt vào không trung

Điện quan thế âm sáng bừng
Tượng đồng trăm tấn  ngự cùng tòa sen
“Thiên nhãn, thiên thủ” Phật quen
Cứu nhân độ thế cửu tuyền nhân gian

Mỏi mong lên cõi Niết Bàn
Thích ca Phật chủ lòng tràn yêu thương
Điện Tam thế, Phủ từ đường
Chúng sinh giữa cõi vô thường dại khôn

Cảm thông số phận mỏi mòn
Tín đồ La Hán mắt tròn phúc kinh
Trăm gương mặt, trăm thế tình
Chênh vênh số phận ngẫm mình đắc quy…?

Cõi thiêng vợi nỗi sầu khê
Từ bi  hỷ xả sập xì khen chê
Đường tu hỏi gốc Bồ đề*
Đấng thiêng chứng quả Phật về cõi tiên.

_________
* Cây bồ đề nơi chứng giám người tu hành đã đắc đạo thành Phật
và từ đó trở về cõi Niết Bàn.

 

 
 

 

3. CHIẾC ĐÒN GÁNH

Mây trời biển lộng năm châu
Nơi nao đòn gánh dãi dầu như ta?
Thẳng cong thể đoạn tre già
Cho ai gánh nước vào ra cổng làng
 
Mùa, chiêm ai gánh lúa vàng
Đắp đê phòng lụt thiếp chàng cùng thi
Dẻo dai sâu nặng tình tre
Từ người thành phố nơi quê đều dùng
 
Bom cày nghẽn tắc giao thông
Vẫn là gồng gánh mà mong hàng đầy
Hành quân đáp núi trèo mây
Lắc lư xoong chảo gấu tay vai sờn  
 
Bủa vây bao trận xung đồn
Chỉ bằng đòn gánh địch dồn hàng ta
Gót hồng quẩy múng hàng hoa
Vai tròn trĩu nặng chợ xa chợ gần
 
Hay đâu chỉ gánh vài cân?
Còn bao nặng gánh nợ nần nước non
Lưng còng dáng mẹ dẻo thon
Gánh cho đất nước vẹn tròn núi sông…
                              
 
 
 

 

4. ĐỨA CON RAU MÁ

Viếng thăm mộ mẹ trên đồng
Liu diu rau má xen vồng rau lang
Chuyện xưa ập đến phũ phàng
Năm nao mẹ kể: Rau lang cứu người
 
Cháo rau, hoa mắt cầm hơi
Cạn năm, cạn tháng cuộc đời gian nan  
Đêm dài nước mắt chan chan
Con khóc đòi vú ruột gan quại quằn
 
Là năm Ất Dậu - Bốn nhăm
Rau lang củ chuối đắng ngăm đêm dài
Đèo thêm giáp hạt giêng hai
Đói chồng nên đói thở dài héo hon
 
Mây trời tình mẹ nước non
“Nhá cơm rau má” nuôi con đoạn ngày
Vượt lên cái kiếp đắng cay
Sống nhờ rau má từ tay mẹ hiền
 
Bến đời dâu bể truân chuyên
Gắng công khuya sớm học lên mẹ nhờ
Thành danh Tiến sỹ bây giờ
Ngẫm thân phận mỏng đâu ngờ có nay
 
Hơi truyền ấm áp bàn tay
Đứa con rau má lần ngày tới đây
Mưa gầy nhè nhẹ hương bay
Mẹ ơi, rau má chen dày lối đi… 

__________
* Mẹ kể: Nạn đói 1945, củ chuối, rau lang và rau má đã cứu sống nhiều người.
Trong đó Tiến sỹ N.T.K. là nhân vật nguyên mẫu.

 

  

 
 
 
5. MỞ LÒNG CÕI THIÊNG

Núi thiêng “Thất diệu” diệu kỳ
Trên cao Đền Sái Kim Quy ngự chầu
Cầu xin đừng“ sái” lòng nhau
Phụ công “Trấn Vũ” phép màu phò vua
 
Kê tinh độc ác chịu thua
Đất lành nhựa sống chiêm mùa trĩu bông
Huyền Thiên Trấn Vũ mở lòng
Thành cao xây chắc thoát vòng oan khiên
 
Đầu xuân dâng lễ vào đền*
Trai đông thiên hạ nên em thẹn thùng
Nén hương vừa mới thắp xong
Lầm bầm khấn vái sầu đong ủ sầu
 
Cái nhìn mắt sắc dao cau
Cầu mong cung thỉnh nát nhàu ruột gan?
Phận đời qua một nén nhang
Quờ tay xúc thẻ hâm gàn tử vi
 
Hỡi ơi, vừa mới xuân thì
Hồng hoa thánh thiện năng đi lễ Đền…
 
_________
*Đền Sái: Di tích lịch sử văn hóa Quốc gia, thuộc xã Thụy Lâm, Đông Anh, Hà Nội.
Đền thờ Đức Huyền Thiên Trấn Vũ, một trong 4 vị thần trấn giữ đất Thăng Long.

L.M.T

 

Chia sẻ:                   Gửi cho bạn bè
Mỗi độc giả cũng là một tác giả
(Mời bạn cho ý kiến, cảm nhận và lời bình sau khi đọc bài viết trên)
Họ và tên  *
Địa chỉ  *
Email  *
Điện thoại  *
Nội dung (bạn cần sử dụng font chữ Unicode, có dấu; ghi đầy đủ họ tên, địa chỉ, email, điện thoại,... Nếu thiếu các thông tin đó, có thể chúng tôi sẽ từ chối cho hiển thị
 
Các bài khác: