Thứ hai, 11/12/2017,

DỐC THIÊNG (25/09/2013)

          Qua nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, tôi được gặp Trương Nam Chi và được tặng hai tập thơ của chị: “Lạc duyên” và “Dốc thiêng”. Hóa ra Trương Nam Chi có một lộ trình số phận tương tự như tôi. Cũng tốt nghiệp Đại học Kỹ thuật, cũng khoác áo lính, cũng lĩnh lương thiếu tá trước khi ra quân… và cũng làm thơ. Tôi đọc “Lạc duyên” với lời giới thiệu của ông bạn Lê Quang Trang. Nhận ra chất nữ tính trong thơ chị khá mạnh. Nhưng “Lạc duyên” vẫn còn nặng suy tưởng, thi ảnh chưa bén sắc để có thể nhận ra đằng sau nó một triết lý. Song cũng đủ thấy ấn tượng ở một giọng thơ Lục Bát khá nhuần nhuyễn. Tất cả những gì “Lạc duyên” chưa đạt tới, đã được Chi hoàn thiện trong “Dốc thiêng” qua lời giới thiệu rất hay của ông bạn “Bụi đời” Bùi Chí Vinh. Tôi nói với Chi: “Vinh đã viết Chi tới bến rồi, anh còn biết viết gì nữa đây”. Nói vậy nhưng tôi vẫn không thể nào không trắc ẩn cùng “Dốc thiêng”.


          “Dốc thiêng” là một tiếng thở dài về nhân tình thế thái bằng thơ của một phụ nữ đã qua tuổi “Ngũ thập tri thiên mệnh”. Ở tuổi đó, người đàn bà Trương Nam Chi đã lặng lẽ chiêm nghiệm lại cuộc đời mình với những tiếc nuối không thể nào quay lại được: “Đêm vuốt ngược/ Dốc/ Đàn bà – Hương hoa thầm gọi/ Ngỡ là/ Đương xuân… (Dốc thiêng). “Đêm vuốt ngược” là một thi ảnh sắc bén và độc đáo. Những câu Lục Bát gãy nhịp tạo nên một ám ảnh Thiền, vừa mơ hồ mà vừa rõ rệt. Ám ảnh ấy còn được nhắc lại ở “Thinh không”: Rót vào/ Khoảng lặng không gian – Hồi chuông tịnh độ/ Nhịp nhàng khoan thai…”. Từ ám ảnh gốc ấy, cảm xúc Trương Nam Chi đã tỏa ra nhiều chiều, trên nhiều cung bậc xao xuyến đến lạ lùng. Trước thực tại hôm nay, Trương Nam Chi không né tránh như nhiều nhà thơ nữ khác. Chị đã nhìn thẳng vào để chia sẻ qua “Người quê ở phố”, “Góc đêm” và đặc biệt là “Chuyện nơi đầu phố”. Có gì nghèn nghẹn, đớn đau khi đọc thơ: “Người đàn bà/ Không nhà/ Lang thang từng ngõ phố/ Mảnh đời cơ cực vắt vai/ Bươn chải trên hình hài/ Gấm vóc – Người đàn bà/ Bật khóc/ Tiếng nấc/ Ngấm vào lòng đất/ Chảy ra biển bạc/ Rừng vàng – Người đàn bà/ Gánh giang sơn trên vai/ Tiễn chồng con ra trận/ Con đường bất tận/ Níu bước chân/ Quên về… Người đàn bà/ Vượt qua chiến tranh/ Xuyên qua hòa bình/ Thấy rõ mình/ Đơn độc…”. Một bài thơ toàn bích, một bài thơ vào hạng hay nhất viết về thân phận đàn bà trên trái đất này, có thể sánh với thơ Zimboska (Nhà thơ nữ người Ba Lan đoạt giải Nobel gần đây).

          Với những thi ảnh rất riêng, Trương Nam Chi đã khắc tạc nỗi nhớ về một thời chiến tranh: “Những chiếc lá rủ nhau rơi xuống vỉa hè – Những cơn giông vừa quen vừa lạ… Nhớ thiết tha tiếng tàu điện leng keng – Hoài niệm trở về xưa cũ – Bước chân đuổi nhau vần vũ – Quay cuồng trong chiến tranh… Điệp khúc trầm thương quay quắt tháng ngày qua… (Nhớ lắm ngày xưa ơi). Bài thơ “Nỗi niềm tháng Tư” hoàn toàn dùng nhịp Lục Bát truyền thống, nhưng thi ảnh rất mới mẻ, rất thi sĩ: “Tháng Tư trời đổ cơn giông/ Ai đem những sợi khói lồng vào mây/ Tháng Tư mưa rớt vai gầy/ Tình yêu nhòa ướt những ngày không nhau/ Tháng Tư tàn lụi mùa cau/ Đuôi con mắc sắc đàng sau ánh nhìn…”. Thơ với Trương Nam Chi ở “Dốc thiêng” đã hóa thành cái nghiệp của chị rồi: “Thơ ca/ Biếu tặng/ Thay quà – Chữ to chữ nhỏ/ Sao mà nhẹ tênh – Nghiệp thơ nhiều lắm thác ghềnh…”.

          Có thể nói qua “Dốc thiêng”, Trương Nam Chi đã trở thành nhà thơ theo đúng nghĩa của giới chuyên môn. Khi đã hiểu “làm thơ để chết” thì “thơ mới sống mãi”: “Xin đừng khâm liệm/ Thơ tôi – Thực ra là chết…/ Nhẹ thôi/ Lâm sàng – Một mai/ Tỉnh giấc mộng vàng/ Từ trong ẩn ức/ Dịu dàng/ Hồi sinh!” (Hồi sinh).


TP. Hồ Chí Minh, ngày 5 tháng 8 năm 2013

Nhà thơ - Nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha

 

 

Đọc “Dốc thiêng” thấy “Đời phàm”

Tóm lại, đọc xong tập thơ “Dốc thiêng” của người đồng nghiệp nữ đôn hậu hiền lành mà tôi thường gọi là “tiểu muội”, tự nhiên thấy lòng thật thanh thản. Thanh thản bởi chữ “Tình”, đã được Trương Nam Chi giải quyết nhẹ như không: “Lạt mềm em buộc làm sao/ Phút giây ai đổ dầu vào lửa than/ Phút giây tiên bụt quy hàng/ Phút giây lòng dạ ruột gan bời bời” (Lạt mềm…). Thanh thản bởi chữ “Đời”, đã được cô cảnh báo: “Ra đường bụng nhủ dạ rằng/ Tránh xa kẻ cướp nhập nhằng thường dân/ Coi chừng gặp kẻ tà tâm/ Giả danh nhân nghĩa kết nhầm tâm giao” (Tự nhủ)...

 

          Ấn tượng đầu tiên của tôi khi gặp Trương Nam Chi rất gọn ghẽ. Đó là một mệnh phụ thầm kín, bẽn lẽn nhưng nồng nàn hương sắc đàn bà. Có thể gọi đó là “gia vị cuộc đời chăng”? Là một dạng “Spice girls” như tên một ban nhạc nữ nổi tiếng của nước Anh từng làm dậy sóng nửa phần kia của nhân loại?

           Coi, nửa phần kia thì ai nấy đều biết. Nó thuộc về đàn ông, lớp độc giả đàn ông từ thanh niên đến sồn sồn. Loại đàn ông chọn lọc mà nếu kết hợp với người nữ sẽ thừa sức sinh đẻ ra 100 trứng như bà Âu Cơ huyền thoại.

           Cũng may mà trong tập thơ “Dốc thiêng”, người đàn bà cầm bút mang tên Trương Nam Chi chỉ khai hoa nở nhụy đúng 54 trứng, đúng 54 bài thơ nửa quen nửa lạ, nửa gần nửa xa, nửa thân mật nửa hững hờ. Ngay trong bài thơ “Tự giới thiệu” đầu thi tập, nữ sĩ họ Trương đã biết cách nói về mình: “Bụi em phiêu bạt thiên hà/ Gặp cơn gió chướng la đà bay lên/ Mưa em rơi giữa nhớ quên/ Một hôm kiêu hãnh tràn trên sông hồ/ Nắng em mai phục bất ngờ/ Đậu trên vai áo đợi chờ… bâng khuâng/ Đoan trang vương nửa chừng xuân/ Là em - hát khúc trầm luân vô thường”… Nghe có vẻ “lên gân”, nhưng kỳ thực lại dịu dàng hết sức, nó như cung tơ chùng xuống tối đa mang giai điệu “Bụi em”, “Mưa em”, “Nắng em” nối liền phong cách thơ từ quá khứ đến hiện đại, từ nét điềm đạm quý phái của Bà Huyện Thanh Quan đến thế kỷ 21 với những nàng Hồ Xuân Hương chân đất thách thức đòi hỏi nữ quyền.

           Trương Nam Chi biết tôi như là một “thi sĩ đàn anh” và từng là đồng đội lớp trước của cô ở đơn vị Bộ Tư lệnh Thành (Quân Khu 7). Tuy nhiên, nếu chỉ biết nhau như thế vẫn là chưa đủ, chúng ta còn cần thêm điều kiện “ắt có” cho đủ mệnh đề để cấu tạo nên tình thân đồng điệu, và điều kiện “ắt có” ấy chính là đây. Là tập thơ “Dốc thiêng” khẳng định được sở trường phóng tay làm “Lục bát” của nữ sĩ. Không tin, mời bạn liếc qua bài thơ “Suông…” chỉ vẻn vẹn 4 câu phá cách mà “thấm” khả năng “chơi chữ giỡn từ” bao la của cô. Ở bài thơ này, hai chữ “suông” và “nhạt” săn đuổi nhau làm thành một bức tranh âm nhạc “Serenade” trữ tình: “Rượu suông/ Nhạt mảnh trăng thề/ Tình suông/ Nhạt cỏ ven đê hững hờ/ Chuông suông/ Nhạt giọt thẫn thờ/ Chiều suông/ Nắng nhạt/ Em chờ/ Đêm suông”.

           Chao ôi Lục bát! Cái thể loại thơ phổ cập dùng để hát ru, hò vè, quen thuộc như ca dao, nhưng chất chứa biết bao là tinh hoa thâm thúy. Chính vì quá dễ làm, nên thơ Lục bát dễ biến thành con dao hai lưỡi đối với những người làm thơ tập sự như chơi. Ở đây Trương Nam Chi không sợ chảy máu đứt tay, cô đủ bản lãnh và kinh nghiệm khi nắm đàng cán “con dao” Lục bát. Ta hãy đọc bài thơ “Sợ…” của cô: Đừng nhìn như thế/ Em say/ Sợ về ru mối tình chay bốn mùa/ Tình yêu nào dễ bông đùa/ Mai này hờn giận lên chùa trách nhau/ Đừng nhìn như thế/ Em đau/ Con tim mềm yếu có đâu tội tình/ Sợ đem ra giữa sân đình/ Mặc cho thiên hạ mắng mình bạo gan/ Đừng nhìn như thế/ Em can… (Thực ra tôi chỉ muốn kết thúc bài thơ ở hai chữ “Em can…”, nhưng Trương Nam Chi là Trương Nam Chi, cô vẫn là một mệnh phụ thầm kín thích giãi bày cảm xúc đến nơi đến chốn).

           Cũng cần phải nói, trong “Dốc thiêng” không chỉ thuần túy Lục bát, Trương Nam Chi còn thể nghiệm sáng tác các thể loại khác như thơ tự do, thơ bốn chữ, thơ bảy chữ, thơ bậc thang… tuy nhiên sự “ép phê” bạn đọc không thể bằng loại “hàng độc Lục bát” mà cô sở trường. Xin trích ở đây vài đoạn thể loại khác có cấu tứ, vần điệu ổn định: “Men rượu cần chỉ là duyên cớ/ Mắt đổ sóng vào nhau mà không nỡ/ Nhỡ nhàng này hẳn tại lá bùa mê/ phố núi chông chênh dan díu lối em về…” (Có một lần dan díu), hoặc “Giá không say câu hát/ Trên đỉnh đồi hoàng hôn/ Giá mùa trăng khao khát/ Đừng làm em điếng hồn (Đơn phương), hay là “Người đàn bà/ Vượt qua chiến tranh/ Xuyên qua hòa bình/ Thấy rõ mình/ Đơn độc” (Chuyện nơi đầu phố)

           Tóm lại, đọc xong tập thơ “Dốc thiêng” của người đồng nghiệp nữ đôn hậu hiền lành mà tôi thường gọi là “tiểu muội”, tự nhiên thấy lòng thật thanh thản. Thanh thản bởi chữ “Tình”, đã được Trương Nam Chi giải quyết nhẹ như không: “Lạt mềm em buộc làm sao/ Phút giây ai đổ dầu vào lửa than/ Phút giây tiên bụt quy hàng/ Phút giây lòng dạ ruột gan bời bời” (Lạt mềm…). Thanh thản bởi chữ “Đời”, đã được cô cảnh báo: “Ra đường bụng nhủ dạ rằng/ Tránh xa kẻ cướp nhập nhằng thường dân/ Coi chừng gặp kẻ tà tâm/ Giả danh nhân nghĩa kết nhầm tâm giao” (Tự nhủ), càng thanh thản hơn khi cô một hôm tự nhiên biến mất: “Qua cầu mà vắng dáng em/ Gió bay khuyết hẳn một bên… đừng buồn” (Tơ lòng).

Coi, buồn làm sao được hả Trương Nam Chi, “Sức mấy mà buồn, buồn ơi bỏ qua đi tám…”*

 

Sài Gòn, ngày 10 tháng 4 năm 2013
Nhà thơ Bùi Chí Vinh 

 

* Lời trích ca từ từ một bản nhạc nổi tiếng của Phạm Duy

 

Trương Nam Chi trải nghiệm nỗi niềm qua Dốc thiêng

  Sau hai tập thơ Quà tặng tình yêu và Lạc duyên đã được xuất bản các năm trước, thì tập thơ Dốc thiêng là bắt đầu những trải nghiệm nỗi niềm của tháng năm mà cuộc sống đang chạm phải. Đó là trái ngang, đố kỵ, buồn vui, day dứt và chính những chướng ngại vật ấy lại là duyên cớ đưa thơ Trương Nam Chi lên tầm mới, vóc dáng mới.
 
Đọc Trương Nam Chi trong Dốc thiêng do NXB Hội Nhà Văn ấn hành tháng 5.2013 này, ta thấy một Trương Nam Chi khúc chiết, sâu lắng nhưng vẫn nhuần nhụy trữ tình vị tha, giàu nhân ái. Trong góc khuất của làng thơ, Trương Nam Chi đã nhìn thấy và tâm sự: Câu thơ nào biết gọi mời/ Câu thơ nào dễ thay lời áo cơm (Đọc thơ bạn). Dốc thiêng chính là tiếng tơ lòng của Trương Nam Chi và cũng là dốc đời mà mỗi con người phải đi qua. Đây cũng là chủ đề tư tưởng của cả tập thơ:
 
Đêm vuốt ngược dốc đàn bà
Hương hoa thầm gọi ngỡ là đương xuân
Ngày chầm chậm đếm chuông ngân
Thánh tha thánh thót khai tâm bồ đề
Dốc đời ủ chín đam mê
Ngũ hành vũ khúc vỗ về khắc sinh.
 
Trương Nam Chi đặt tên cho tựa sách như tâm thế của mình. Với bài thơ Lạt mềm những phân vân đắn đo trong ý thức người phụ nữ đương thời:
 
Lạt mềm em buộc làm sao
Phút giây ai đổ dầu vào lửa than
và:
Lạt mềm buộc thói trăng hoa
Bao nhiêu vòng hết xót xa thì dừng.
 
Phải chăng đây là phương thức sống trong việc gìn giữ tình yêu. Không nóng vội, hãy là lạt mềm buộc chặt... Với bài thơ Suông, phải nói rằng đây là bài thơ lục bát hay, với lối viết điệp từ cách điệu của năm từ suông, nhạt ở bốn câu thơ trong đó câu thứ năm có hai từ suông:
 
Rượu suông nhạt mảnh trăng thề
Tinh suông nhạt cỏ ven đê hững hờ
Chuông suông nhạt giọt thẩn thờ
Chiều suông nắng nhạt em chờ đêm suông.
 
Cái cách vịnh mấy câu suông nhạt thể lục bát có phép mầu như vậy, Trương Nam Chi đã hóa giải vần điệu một cách khéo léo không xưa. Đó là cách viết cao tay, nói lên nỗi trống vắng trong chờ đợi…
Trong tập thơ Dốc thiêng, lần này Trương Nam Chi viết về làng quê, người quê đạt đến độ chín của sự ấp ủ ngôn ngữ lục bát đương đại, day dứt, lắng đọng: Bài Lối cũ:
 
Về quê nghe tiếng sáo diều
Rạ rơm khói bếp ráng chiều heo may
Nếp thơm dậy những luống cày
Lúa khoai từ mảnh đất này thăng hoa.
 
Và những người ở quê ra đi vì mưu sinh do thiên tai, bão tố đi qua đã cướp mất đời sống bình thường ở làng quê của họ. Người thơ có tấm lòng nhân ái như Trương Nam Chi  đã có cái nhìn cảm thông chia sẻ: Gánh gồng buôn bán xa gần/ Người quê ở phố có cần gì đâu/ Con đường nhỏ hẻm hút sâu/ Bám theo những mảnh áo nâu cơ hàn (Người quê ở phố).

 
Trương Nam Chi viết nhiều về thơ lục bát, có người nói rằng: vì Trương Nam Chi tham gia trang web lucbat.vn. Có thể là như vậy. Viết lục bát thì dễ nhưng để có bài thơ lục bát hay là rất khó. Người viết lục bát được ví như người làm xiếc đi trên dây thăng bằng. Làm thơ lục bát hay thì đứng vững trong lòng người đọc, làm không hay thì rơi ngay khỏi tâm trí người đọc như rơi khỏi dây vậy . Với thơ lục bát Trương Nam Chi, chị đã đứng vững và biểu diễn đẹp trên sợi dây khắc nghiệt ấy đã cho ra đời nhiều bài lục bát hay:

Gía đừng giông bão oằn vai
Có đâu uẩn khúc u hoài tha hương…
và:
Cuộn tròn điệp khúc xa quê
Nhập cư vị chát nghe tê rát lòng
                        (Ngụ cư)
 
Dốc thiêng đâu chỉ có lục bát mà lần này Trương Nam Chi đã dành đất cho các thể loại thơ khác cùng nẩy mầm tươi tốt trên cánh đồng vàng ấy:
 
Nước mắt vòng quanh
Đêm dài thành ngắn
Hạ về ngập nắng
Con đường rộng ra…
Và:
Thu về hoa sữa
Lạc giữa heo may…
 
Đó là nỗi nhớ đêm ngày tháng năm Hà Nội của chị
Qua Dốc thiêng mới thấy trong thơ Trương Nam Chi yêu và lãng mạn biết chừng nào: Biển chẳng nói lời nào sao mắt em cay/ Sóng cứ vỗ bãi cát dài cứ đợi/ Bầu trời cao vẫn trong xanh vời vợi/ Trong một chiều vắng anh… (Lời của biển). Ngôn ngữ trong thơ Trương Nam Chi luôn dịu dàng, hàm súc, càng đọc ta càng thấy đẹp và cao thượng. Trong bài thơ Hãy tựa đầu vào tình yêu của em Trương Nam Chi viết: Xúc xắc cuộc đời mỗi vòng quay mỗi khác/ Lời ru ngọt ngào dễ mấy ai quên/ Hãy tựa đầu vào tình yêu của em… Bài thơ hay, với ngôn ngữ ý tứ của một phụ nữ đã trải qua tình yêu đẹp, sao không yêu cho được bởi Hãy tựa đầu vào tình yêu của em Trương Nam Chi sử dụng ngôn ngữ khéo léo ở nơi tình tứ ấy. Rồi đến khi thức giấc cho ta thấy: Giấc mơ tình long lanh/ Lăn tròn qua kẻ lá/ Mùa đang thì nghiêng ngả/ Hoang dã sợi gió buồn (Sợi gió chiều mưa). Càng đặc biệt hơn với Trương Nam Chi trong Dốc thiêng là viết thơ tình bằng ngôn ngữ tự do có nhiều hình ảnh, ý tứ hay và lay động với lối viết đằm thắm nâng thơ cổ điển lên tầm cao mới. Xin trích đoạn thơ này trong bài: Có một lần dan díu ngõ hầu cùng quý vị: Đã có một lần như hôm nay/ Men rượu cần chỉ là duyên cớ/ Mắt đổ sóng vào nhau mà không nỡ/ Nhỡ nhàng này hẳn tại lá bùa mê/ Phố núi chông chênh dan díu lối em về/ Sương nhẹ đặt nụ hôn lên phiến đá/ Nụ hôn ngọt ngào dẫu ngàn năm vẫn lạ/ Tiếng chiêng cồng đồng lõa nhịp tim em. Ta cũng đủ thấy hình ảnh và ngôn ngữ đẹp như thế nào. Trong đời sống thường ngày có ai đó cứ thấy đỏ tưởng chín và Trương Nam Chi đã cảnh tỉnh tế nhị: Đừng trộn lẫn em với đám đông/ Bởi chấn động ngầm trong em trỗi dậy/ Và lỗ hổng đường ranh rạn nứt / Cũng bắt đầu từ đó mà ra… và: Em không là bản nháp của đời anh (Bản Nháp).
Người đàn bà thơ trong Trương Nam Chi tự tin chờ đợi trong tình thơ, tình đời:

Nhường anh ngày rong ruổi
Em ẩn mình vào thơ
Câu thơ biết đợi chờ
Dù hồn em trống vắng
         (Giấu mình vào thơ).

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 6.2013
Nguyễn Vũ Quỳnh

 

Chia sẻ:                  
Các bài khác: